Khi kiểm tra hồ sơ dầm cầu dự ứng lực, kỹ sư có thể gặp nhiều tài liệu cùng nhắc tới bê tông, thép và cường độ. Tuy nhiên, chứng chỉ chất lượng cáp, kết quả thử bê tông, nhật ký căng kéo và hồ sơ bơm vữa là những nhóm bằng chứng khác nhau. Không thể dùng một phiếu thí nghiệm bê tông để chứng minh cáp dự ứng lực đạt yêu cầu, hoặc dùng chứng chỉ thép để thay biên bản căng kéo.
Để tổ chức hồ sơ đúng, trước hết phải xác định công nghệ dầm là căng trước hay căng sau, cấu tạo hệ dự ứng lực và yêu cầu thiết kế được phê duyệt. Từ đó mới chọn quy trình kiểm tra cho từng vật liệu và công đoạn.
1. Hồ sơ vật liệu cáp dự ứng lực
Nhóm này cần thể hiện nhà sản xuất, loại sản phẩm, lô cung cấp, thông số kỹ thuật, chứng chỉ và kết quả kiểm tra theo chỉ dẫn của dự án. Đối với vật liệu thép dảnh dự ứng lực, TCVN 6284-4:1997 có tên Thép cốt bê tông dự ứng lực – Phần 4: Dảnh và được cơ sở dữ liệu của Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam ghi nhận còn hiệu lực khi kiểm tra.
Điều đó không có nghĩa mọi loại cáp, mọi hệ neo và mọi yêu cầu thử nghiệm đều chỉ cần đọc TCVN 6284-4. Cần đối chiếu chủng loại sản phẩm thực tế, tiêu chuẩn vật liệu được phê duyệt và yêu cầu riêng của hệ dự ứng lực.
Tại công trường, nên bảo đảm mã lô vật liệu trên chứng chỉ có thể truy nguyên tới vị trí sử dụng. Thông tin về lưu kho, bảo vệ khỏi ăn mòn và tình trạng bề mặt cũng cần được kiểm soát theo yêu cầu kỹ thuật.
2. Hồ sơ thiết bị và hệ neo
Kích, đồng hồ áp lực, hệ neo, nêm và các phụ kiện phải phù hợp với hệ cáp được thiết kế. Trước khi căng kéo, cần có căn cứ kiểm tra tình trạng thiết bị, dữ liệu hiệu chuẩn hoặc kiểm định theo yêu cầu và quy trình được chấp thuận. Một số ghi trên đồng hồ không trực tiếp thay thế giá trị lực nếu chưa được diễn giải qua quan hệ hiệu chuẩn tương ứng.
Trường hợp thay kích, thay bộ thiết bị đo hoặc thay hệ neo trong quá trình thực hiện, phải đánh giá ảnh hưởng tới quy trình căng kéo đã phê duyệt; không nên sử dụng lại biểu mẫu cũ mà không làm rõ thay đổi.
3. Kiểm soát bê tông trước khi truyền hoặc tạo lực
Cường độ bê tông là một điều kiện kỹ thuật quan trọng ở những công đoạn yêu cầu kết cấu đủ khả năng tiếp nhận lực. Nhưng phải phân biệt kết quả đánh giá bê tông với chất lượng cáp. TCVN 10303:2025, thay thế TCVN 10303:2014, quy định việc kiểm tra và đánh giá cường độ bê tông trên mẫu đúc trong phạm vi của tiêu chuẩn. Nó không phải tiêu chuẩn sản phẩm cáp dự ứng lực.
Điều kiện bắt đầu căng kéo, truyền lực, tháo dỡ hoặc chuyển giai đoạn thi công phải theo thiết kế, biện pháp và quy định áp dụng cho công nghệ dầm cụ thể. Không dùng một ngưỡng cường độ truyền miệng cho mọi loại dầm.
4. Biên bản căng kéo cần truy xuất được gì?
Một hồ sơ hữu ích thường xác định được vị trí bó cáp, thứ tự căng, thiết bị sử dụng, lực hoặc áp lực theo quy trình, giá trị đo độ giãn dài, diễn biến căng và kết quả đối chiếu với yêu cầu thiết kế. Nếu xuất hiện sai lệch, hồ sơ cần ghi rõ cách xử lý, người chấp thuận và kết quả xác minh.
Việc xác định lực qua thiết bị và độ giãn dài đo được phải được xem xét theo phương pháp, hệ số và sai số được dự án chấp thuận. Bài viết này không đưa ra giới hạn phần trăm chung, vì các yêu cầu phải được xác định trên cơ sở hệ cáp và thiết kế cụ thể.
5. Công tác sau căng và hồ sơ hoàn thành
Với cấu tạo căng sau có ống gen và yêu cầu bơm vữa, phải có quy trình, vật liệu, thiết bị, nhật ký và kết quả kiểm soát công tác bơm vữa theo hồ sơ được duyệt. Các bộ phận neo và vùng đầu dầm cần được bảo vệ, hoàn thiện theo thiết kế. Không đánh đồng “căng đạt” với “toàn bộ hệ dự ứng lực đã hoàn thành”.
Hồ sơ cuối cùng nên nối được chuỗi: lô cáp → vị trí lắp đặt → thiết bị căng → kết quả căng → xử lý sai lệch → công tác hoàn thiện và nghiệm thu. Nếu mất một mắt xích, việc truy xuất sau này sẽ khó khăn.
6. Những nhầm lẫn cần tránh
- Dùng tiêu chuẩn kiểm tra cường độ bê tông làm tiêu chuẩn kiểm tra chất lượng cáp.
- Xem chứng chỉ của nhà cung cấp là bằng chứng duy nhất cho chất lượng thi công tại hiện trường.
- Ghi kết quả áp lực đồng hồ nhưng không xác định quan hệ với thiết bị căng thực tế.
- Ký biên bản hoàn thành căng kéo khi còn thiếu hồ sơ xử lý bất thường.
- Sử dụng một bộ biểu mẫu cho cả căng trước và căng sau mà không tách yêu cầu riêng.
Nếu muốn hiểu tổng quan ứng dụng, xem bài Cáp dự ứng lực là gì? Ứng dụng trong cầu đường. Bài hiện tại đi sâu vào vấn đề quản lý hồ sơ chất lượng theo từng công đoạn.
Kết luận: quản lý hệ dự ứng lực cần chứng minh chất lượng vật liệu, kết cấu tiếp nhận lực và thao tác thi công bằng những hồ sơ riêng nhưng liên kết được với nhau.